"Giáo dục Việt Nam đang quá tải, 12 năm phổ thông còn
quá tải, nếu giảm còn 10 năm sẽ thế nào? Học sinh được học nhiều hơn thì
sẽ được kết quả tốt hơn" GS Nguyễn Lộc, Viện phó Viện Khoa học Giáo dục
trả lời VnExpress.
- Dưới góc nhìn của cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ GD&ĐT, ông thấy những bất cập gì đang tồn tại trong nền giáo dục Việt Nam?
- Hệ thống giáo dục của Việt Nam đã có thay đổi lớn,
cho đến nay ở mức độ nhất định đáp ứng được nhu cầu học tập và phát
triển đất nước. Hệ thống giáo dục Việt Nam đã đại chúng hơn, nếu như so
với trước đây chỉ đào tạo được một số lượng ít, sự cách biệt bậc học
lớn, học tập suốt đời kém, thậm chí chưa có đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ.
Mặc dù vậy, nhược điểm cơ bản của hệ thống giáo dục
Việt Nam hiện nay là chưa đáp ứng một cách có hệ thống và toàn diện nhu
cầu học tập của quốc gia, đặc biệt là tính liên thông. Thứ hai là còn có
sự chồng chéo, trùng lặp, nhất là hệ thống dạy nghề với các hệ thống
giáo dục khác. Một bên có trung cấp nghề, cao đẳng nghề, một bên có
trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng khiến người ta không hiểu chúng khác
nhau cơ bản ở điểm gì.
Một điểm yếu nữa của hệ thống giáo dục hiện nay là ở
cấp học kết nối giữa phổ thông với đại học - giáo dục chuyên nghiệp và
dạy nghề. Với cấu trúc như hiện tại, giáo dục chuyên nghiệp dường như bị
từ chối, rơi vào khủng hoảng.
![]() |
| GS Nguyễn Lộc cho rằng cần giảm thời gian học đại học xuống còn 3 năm theo xu hướng chung của thế giới. Ảnh: Hoàng Thùy. |
- Nội dung
chương trình giáo dục phổ thông đang bị nhiều chuyên gia và chính học
sinh nhận xét là ôm đồm, thiếu định hướng. Giáo sư bình luận gì về điều
này?
- Đúng là nội dung giảng dạy ở phổ thông còn ôm đồm,
lặp đi lặp lại, nhiều kiến thức không cần thiết cho cuộc sống thực tiễn.
Về vấn đề này, gần đây một số nhà khoa học có đặt câu hỏi khá sâu sắc
là có cần học nhiều toán như thế không? Từ đây cũng có thể đặt câu hỏi
tương tự với nhiều môn học khác. Đó là chưa nói đến xu thế tích hợp
chương trình ở Việt Nam đang rất kém. Ở nước ngoài tích hợp các môn rất
tốt, trong khi mình dạy Toán, Lý, Hóa, Văn, Sử, Địa... riêng biệt thì họ
tích hợp thành các môn khoa học, hoặc xã hội, qua đó thời lượng giảm đi
nhiều và ý nghĩa thực tế cao hơn.
Hơn nữa những năng lực cần thiết khác cần có ở học
sinh trong xã hội hiện đại như năng lực học tập suốt đời, năng lực xã
hội... thì chưa được chú ý.
- Mới đây, TS
Lê Trường Tùng đề xuất sát nhập THCS và THPT để kết thúc chương trình
phổ thông vào lớp 9, sau đó tạo nhiều hướng đi và sinh viên có thể tốt
nghiệp đại học năm 20 tuổi. Kiến nghị này đã được cơ quan nghiên cứu của
Bộ Giáo dục xem xét như thế nào?
- Muốn theo chương trình phổ thông là 10 hay 12 năm
cần có những cơ sở thuyết phục, không nên thấy một số nước nào đó làm
thì làm theo. Ta từng trải qua các thời kỳ 9, 10, 11 năm phổ thông và
hiện tại đang ổn định ở 12 năm. Giáo dục chúng ta đang quá tải, 12 năm
còn quá tải thì 10 năm sẽ quá tải thế nào?
Khi đổi từ 12 năm xuống 10 năm thì phải đổi toàn bộ
chương trình sách giáo khoa, đào tạo lại giáo viên, liệu có làm được
trong một vài năm hay không? Hơn nữa, lượng giờ học trong nhà trường phổ
thông của học sinh Việt Nam hiện nay là thấp vào loại nhất thế giới.
Giờ học của mình chỉ ở mức gần 8.000 giờ trong khi thế giới 9.000 -
12.000 giờ. Nếu từ 12 lớp xuống 10 lớp số giờ sẽ còn tụt đi nhiều nữa.
Nước Mỹ vốn có thời lượng học phổ thông rất cao nhưng vừa rồi mới phải
tăng thêm giờ học. Dù thông minh đến mấy nhưng học sinh được học nhiều
hơn thì sẽ được kết quả tốt hơn.
So sánh bên ngoài, trong số liệu của hơn 200 nước mà
chúng tôi có được, chỉ có khoảng 6 nước chọn hệ thống giáo dục phổ thông
10 năm (tỷ lệ ít nhất), gần 120 nước dùng hệ 12 năm (hơn 60%), còn các
tỉ trọng khác rơi vào các hệ thống với 11, 13, 14… năm.
Ở các nước quanh ta chỉ có Singapore, Philippine là 10
năm. Tuy nhiên, Singapore học 10 năm nhưng có hai năm dự bị theo kiểu
Anh. Trong các nước OECD không có nước nào chọn hệ thống giáo dục phổ
thông dưới 12 năm, thậm chí có nhiều nước chọn hệ thống nhiều hơn 12 năm
một vài năm.
Mặc dù vậy, theo tôi vấn đề 10 hay 12 năm xét ở một
góc độ nào đó cũng không quan trọng bằng nội dung chương trình, sắp xếp
thế nào cho phù hợp. Khi đã muốn đổi thì phải xem cái lợi và cái hại để
quyết định, nếu lợi chưa có nhiều mà nguồn lực phải đầu tư quá lớn thì
phải cân nhắc đi theo hướng phù hợp không.
![]() |
| Thăm dò ý kiến độc giả VnExpress. |
- Vậy theo ông đâu là hướng đổi mới phù hợp cho nền giáo dục Việt Nam hiện nay?
- Bàn về vấn đề đổi mới giáo dục người ta thường xem
xét ở ba vấn đề lớn là hệ thống cấu trúc của nền giáo dục, chất lượng và
quản lý. Về hệ thống giáo dục, thời gian tới phải chú trọng đến khâu
yếu nhất là điểm nối giữa phổ thông và đại học, tăng cường tính liên
thông giữa các cấp học để đáp ứng nhu cầu đa dạng của giáo dục. Trong
đó, đặc biệt chú ý đến việc đưa ra các mô hình đào tạo mới ở cấp đào tạo
kỹ thuật và nghề nghiệp.
Cần lưu tâm đến việc giảm thời gian đối với các trình
độ đào tạo ở đại học, thậm chí là thạc sĩ, tiến sĩ; giảm số năm trong
đại học từ 4, 5 năm xuống 3 năm, thạc sĩ 1 năm là xu thế chung của thế
giới. Thanh niên trưởng thành nhanh nên không lo việc không thể tiếp thu
hết kiến thức.
Các bậc trình độ, bằng cấp cần đa dạng hơn để đáp ứng
nhu cầu của thị trường giáo dục. Nên đặt hệ thống giáo dục quốc gia dưới
một khung chung của hệ thống học tập suốt đời. Về chất lượng giáo dục,
trước tiên cần chú ý đến những điều kiện để đảm bảo chất lượng của một
nền giáo dục, đó là cơ sở vật chất và các quá trình giáo dục tương ứng.
Mô hình nhà trường dạy học cả ngày là mô hình phổ biến trên thế giới
trong nhiều năm nhưng ở Việt Nam điều này dường như vẫn là một giấc mơ
xa vời. Do vậy, trong những năm sắp tới vấn đề ưu tiên cung cấp đất đai,
tạo thành một nguồn lực để các nhà trường có thể dạy học cả ngày cần
được coi là ưu tiên quốc gia. Việc học cả ngày sẽ tạo nên môi trường
thuận lợi để triển khai đổi mới giáo dục toàn diện.
Một vấn đề khác là chất lượng giáo viên. Thành công
của những nước có kết quả giáo dục cao cho thấy giáo viên đóng vai trò
rất quan trọng. Ngoài những yêu cầu về trình độ thì cũng cần tạo động
lực cho giáo viên đóng góp và cống hiến. Các cơ chế như trả lương theo
năng lực cần được nghiên cứu và mạnh dạn áp dụng để tăng nguồn nhân lực
chất lượng cao.
Cần nghiên cứu, giới thiệu rộng rãi những thành tựu
của lý thuyết và thực tiễn dạy học trên thế giới, kết hợp với kinh
nghiệm quốc gia để làm sao có những công nghệ dạy học mới và hiệu quả.
Về quản lý thì cần áp dụng những cơ chế phân cấp cũng như cơ chế thị
trường phù hợp vào giáo dục.
- Theo ông, những bất cập của giáo dục đại học nên được giải quyết như thế nào?
- Giáo dục phổ thông dù còn nhiều yếu kém vẫn đạt được
một thành quả nhất định, còn giáo dục đại học cần có nhiều đổi mới mạnh
mẽ hơn nữa. Theo World Economic Forum (WEF - Diễn đàn kinh tế thế giới)
thì giáo dục phổ thông cùng với y tế Việt Nam được xếp hạng 84 trên 142
nước, còn giáo dục đại học ở vị trí 98. Chất lượng thấp xuất phát từ
chương trình chưa tốt, giảng viên còn yếu, cơ sở vật chất còn yếu.
Trước mắt nên chú trọng cải tiến chương trình đào tạo,
cần tiếp tục đạo tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Chương trình của các
trường đại học nước ngoài 1, 2 năm thay đổi nhưng Việt Nam hàng được sử
dụng nhiều năm vẫn không đổi. Hiện Bộ Giáo dục khuyến khích đào tạo theo
nhu cầu xã hội nhưng dường như điều đó chỉ dừng lại ở mức độ khẩu hiệu
hay mong muốn.
Có đào tạo được theo nhu cầu xã hội hay không phải phụ
thuộc vào sự năng động của trường đại học, việc biên soạn, thay đổi
liên tục chương trình, xã hội thay đổi gì phải thay đổi để theo kịp. Khi
nắm được thông tin của thị trường thì lập tức các trường phải cân nhắc
lại xem giảng dạy như vậy đã phù hợp chưa, liên kết với các doanh nghiệp
trong giảng dạy đánh giá, đấy mới là giảng dạy theo nhu cầu.
Các trường đại học Việt Nam đang đang chịu một áp lực
đào tạo lớn quá nên dường như không có thời gian nhìn lại việc làm có
phù hợp không, trong khi xã hội thì quá kỳ vọng vào họ..
Hoàng Thùy thực hiện
(theo vnexpress.net)


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét